Tin tức
Hình sự23 phút đọc

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI MUA BÁN HÓA ĐƠN

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI MUA BÁN HÓA ĐƠN

Thẻ 1

Tội danh lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và mua bán trái phép hóa đơn

Thẻ 2

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI MUA BÁN HÓA ĐƠN

Trong những năm gần đây, tình trạng mua bán trái phép hóa đơn diễn ra ngày càng phức tạp, xuất hiện ở nhiều lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, thậm chí len lỏi vào một số đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước. Hành vi này không chỉ gây thất thu thuế, làm méo mó môi trường kinh doanh mà còn kéo theo nhiều loại tội phạm kinh tế khác. Với góc nhìn của tổ chức hành nghề luật sư, Văn phòng Luật sư Tinh Hoa Việt phân tích quy định pháp luật hiện hành, thực tiễn vi phạm.

1. Quy định về hành vi mua bán hóa đơn

1.1. Khái niệm hóa đơn

Khái niệm hóa đơn được quy định theo Khoản 1 Điều 3 Thông tư 39/2014/TT-TBC, cụ thể:

“Điều 3. Loại và hình thức hóa đơn

1. Hóa đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận thông tin bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo quy định của pháp luật.”

1. Mua bán hóa đơn trái phép bao gồm những hành vi nào?

1.2. Mua bán hóa đơn trái phép bao gồm những hành vi nào?

Hành vi mua bán hóa đơn trái phép được quy định tại khoản 3 Điều 2 Thông tư liên tịch 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC như sau:

Điều 2. Về tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước (Điều 164a BLHS)

3. Các hành vi quy định tại Điều 164a của BLHS được hiểu như sau:

a) In trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi tự in hóa đơn hoặc tự khởi tạo hóa đơn điện tử khi không đủ điều kiện hoặc không đúng, không đầy đủ các nội dung theo quy định của pháp luật; In hóa đơn giả hoặc khởi tạo hóa đơn điện tử giả;

b) Phát hành trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước là hành vi lập tờ thông báo phát hành không đầy đủ nội dung; không gửi hoặc không niêm yết tờ thông báo phát hành hóa đơn theo đúng quy định;

c) Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước gồm các hành vi sau đây:

c.1) Mua, bán hóa đơn chưa ghi nội dung hoặc ghi nội dung không đầy đủ, không chính xác theo quy định;

c.2) Mua, bán hóa đơn đã ghi nội dung, nhưng không có hàng hóa, dịch vụ kèm theo;

c.3) Mua, bán hóa đơn giả, hóa đơn chưa có giá trị sử dụng, hóa đơn đã hết giá trị sử dụng, hóa đơn của cơ sở kinh doanh, dịch vụ khác để hợp thức hóa hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc cấp cho khách hàng khi bán hàng hóa dịch vụ;

c.4) Mua, bán, sử dụng hóa đơn có sự chênh lệch về giá trị hàng hóa, dịch vụ giữa các liên của hóa đơn.

…”

Từ các quy định trên, có thể hiểu mua bán hóa đơn trái phép là hành vi trao đổi, chuyển nhượng, hoặc sử dụng hóa đơn không đúng quy định của pháp luật nhằm hợp thức hóa giao dịch, kê khai thuế hoặc che giấu hành vi vi phạm khác.

2. Chế tài hình sự theo Điều 203 Bộ luật Hình sự

Điều 203 Bộ luật hình sự quy định mức xử lý nghiêm khắc đối với hành vi in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn:

- Khung 1: Phạt tiền từ 50 – 200 triệu đồng hoặc phạt tù 06 tháng – 03 năm.

- Khung 2: Phạt tù 02 – 07 năm khi phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, hoặc giá trị hóa đơn/thu lợi bất chính ở mức đáng kể.

- Khung 3: Phạt tù 05 – 10 năm đối với trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, giá trị hóa đơn hoặc khoản thu lợi bất chính rất lớn.

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 – 05 năm.
Đối với pháp nhân thương mại, pháp luật cũng cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp vi phạm có tính hệ thống.

Mua bán trái phép hóa đơn là hành vi vi phạm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh tế và trật tự quản lý thuế. Khung pháp lý đã tương đối đầy đủ, tuy nhiên để phòng ngừa hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cơ quan quản lý nhà nước.

Nếu bạn cần tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này hoặc có thắc mắc cần tư vấn pháp lý, xin vui lòng liên hệ với Văn phòng Luật sư Tinh Hoa Việt, theo Hotline: 08.7939.7939 và Email: vplstinhhoaviet@gmail.com hoặc truy cập website:https://lstinhhoaviet.vn/ để được chúng tôi hỗ trợ nhanh nhất.

Thẻ 3

PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN "LỢI DỤNG CHỨC VỤ QUYỀN HẠN TRONG THI HÀNH CÔNG VỤ VÀ MUA BÁN TRÁI PHÉP HÓA ĐƠN" VƯỚNG VÒNG LAO LÝ VÌ THIẾU HIỂU BIẾT PHÁP LUẬT

Ngày 29/10/2025 Tòa án nhân dân tỉnh H đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ và mua bán trái phép hóa đơn” liên quan đến bị cáo ĐTX và 12 bị cáo khác trong vụ án này.

Bị cáo X là người đứng đầu của cơ quan nhưng do thiếu hiểu biết quy định pháp luật, với mục đích rất nhân văn là tăng nguồn thu cho TTDV đưa vào quỹ nội bộ chi cho các khoản không được ngân sách Nhà nước chi trả như mua đồ dùng cho TTDV, thưởng cho nhân viên, chi mừng tuổi đầu năm, sửa chữa mua sắm các trang thiết bị tại cơ quan... Bị cáo đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao bàn bạc thống nhất mua và chỉ đạo mua tổng số 107 số hóa đơn khống không có hàng hóa kèm theo của các hộ kinh doanh, lập chứng từ khống rút tiền ngân sách Nhà nước số tiền 637.627.600 đồng trong khoảng thời gian 3 năm. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 điều 356 Bộ luật hình sự và tội “Mua bán trái phép hóa đơn” quy định tại điểm d khoản 2 điều 203 Bộ luật hình sự.

Văn phòng luật sư Tinh Hoa Việt đã cử các luật sư bào chữa cho bị cáo X là Luật sư Đỗ Hồng Sơn và Luật sư Lưu Vũ Anh. Các Luật sư đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:

1. Bị cáo X thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, các bị cáo cùng vụ án thực hiện hành vi đồng phạm giản đơn, không có sự phân công, phân nhiệm vụ cụ thể giữa các bị cáo. Do vậy, bị cáo không phạm tội thuộc trường hợp có tổ chức.

2. Bị cáo X có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định hình sự tại Điều 51 và không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội đã ý thức khắc phục nộp số tiền lớn cho ngân sách Nhà nước. Đối với tội danh “Mua bán trái phép hóa đơn” nhất trí về tội danh và hình phạt đề xuất của đại diện Viện kiểm sát. Đối với tội danh “Lợi dụng chức dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Nghị quyết số 03/2025 và Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

Bị cáo X thực hiện hành vi phạm tội không có mục đích vụ lợi cá nhân, trong quá trình điều tra đã tự nguyện khắc phục nộp lại toàn bộ số tiền gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước.

Bị cáo X được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s và điểm v khoản 1 Điều 51 và các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Dựa trên những hành vi mà bị cáo gây ra Tòa án nhân dân tỉnh H đã đưa ra mức phạt Xử phạt bị cáo ĐTX 02 năm 09 tháng tù về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và 150.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước về tội “Mua bán trái phép hóa đơn”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là: 02 năm 09 tháng tù và 150.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Phân tích pháp lý của Văn phòng Luật sư Tinh Hoa Việt trong vụ án này để bào chữa cho bị cáo X như sau:

Bị cáo X phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 điều 356 Bộ luật hình sự và tội “Mua bán trái phép hóa đơn” quy định tại điểm d khoản 2 điều 203 Bộ luật hình sự.

1. Về tội danh “Mua bán trái phép hóa đơn” bị cáo bị truy tố tại khoản 2 “ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm” các Luật sư đã đề xuất áp dụng khoản 2 Điều 50 Bộ luật hình sự như sau: “ Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội”. Trong vụ án này gia đình bị cáo X đã chuẩn bị một khoản tiền trong tài khoản ngân hàng và cam kết thi hành án ngay sau khi Tòa án tuyên án và hậu quả của việc vi phạm pháp luật trong vụ án này không quá lớn. Đây là căn cứ và là điều kiện để Tòa án ra phán quyết là hình phạt tiền là 150 triệu đồng đối với tội danh trên mặc dù khoản 2 Điều 203 có quy định về hình phạt tù.

2. Về tội danh “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” bị cáo X bị truy tố tại khoản 2 Điều 356 “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm” các Luật sư đã đề xuất áp dụng khoản 1 Điều 50 “ Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”.và khoản 1 Điều 54 “ Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này”. Như vậy trong vụ án này hình phạt tù đối với bị cáo là 5 – 10 năm. Nhưng các Luật sư đã đề nghị áp dụng các quy định để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo X khi bị cáo đã có 3 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 đã đủ điều kiện để áp dụng khoản 1 Điều 54 để quyết định khung hình phạt trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật. Căn cứ vào các đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trên của các Luật sư, Tòa án đã ra phán quyết hình phạt tù 2 năm 9 tháng đối với bị cáo X trong vụ án này.

Đây là hình phạt mang tính răn đe và là lời cảnh tỉnh cho tất cả các cơ quan, đoàn thể, cá nhân phải hiểu rõ quy định của pháp luật khi thực hiện hành vi bất kỳ, mặc dù hành vi đó có là hành vi tốt, mang lại lợi ích cho cơ quan, đoàn thể nhưng không thực hiện đúng với quy định của pháp luật thì hành vi đó có thể vi phạm pháp luật.

Nếu bạn cần tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này hoặc có thắc mắc cần tư vấn pháp lý, xin vui lòng liên hệ với Văn phòng Luật sư Tinh Hoa Việt, theo Hotline: 08.7939.7939 và Email: vplstinhhoaviet@gmail.com hoặc truy cập website:https://lstinhhoaviet.vn/ để được chúng tôi hỗ trợ nhanh nhất.

Thẻ 4

Thẻ 5

CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH THỰC TRẠNG HÀNH VI BẠO LỰC Ở THANH THIẾU NIÊN

Trong thời gian gần đây, tại một số địa phương trên cả nước xuất hiện tình trạng nhóm thanh thiếu niên tụ tập, chặn đường và hành hung người đi đường, gây nhiều bức xúc trong dư luận. Những vụ việc này không chỉ xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng người dân mà còn tạo ra tâm lý bất an trong cộng đồng. Dưới góc độ pháp lý, các hành vi nói trên đã có đầy đủ căn cứ để xử lý theo quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Văn phòng Luật sư Tinh Hoa Việt phân tích vấn đề này như sau:

1. Quy định pháp luật về tội cố ý gây thương tích

Cố ý gây thương tích là hành vi cố ý xâm phạm thân thể người khác, gây tổn hại về sức khỏe, với hậu quả là thương tích từ 11%trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp đặc biệt được quy định trong Bộ luật Hình sự. Đây là một hành vi nguy hiểm, vi phạm quyền được pháp luật bảo vệ sức khỏe của con người.

Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự, người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác thì tùy vào mức độ thương tích và tình tiết tăng nặng sẽ bị xử lý hình sự với nhiều khung hình phạt khác nhau, cao nhất lên đến 20 năm tù hoặc tù chung thân đối với trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

3. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm đến 07 năm.

4. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

5. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 6 Điều này hoặc dẫn đến chết người, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

6. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

7. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”

Pháp luật cũng quy định các tình tiết định khung tăng nặng như:

- Dùng vũ khí, hung khí nguy hiểm;

- Phạm tội có tổ chức hoặc gây thương tích cho nhiều người;

- Hành vi mang tính côn đồ;

- Quay clip, làm nhục, gây hoang mang trong xã hội.

Ngay cả khi thương tích chưa đạt mức truy cứu hình sự, hành vi đánh người vẫn có thể bị xử phạt hành chính, đồng thời phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại.

2. Hành vi bạo lực đường phố gia tăng ở thanh thiếu niên

Báo chí và cơ quan chức năng gần đây đã phản ánh nhiều vụ việc nhóm trẻ vị thành niên chặn đường, đánh người qua đường, quay clip đưa lên mạng xã hội. Một số vụ điển hình như:

- Hai thiếu niên hành hung và ép một nam sinh quỳ gối giữa đường, quay clip đăng lên mạng, sau đó bị công an khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích và làm nhục người khác.

- Vụ hai học sinh bị một nhóm thanh niên chặn đường, đánh tới tấp, khiến nhiều người dân chứng kiến hoang mang; cơ quan công an đã lập tức tạm giữ người liên quan để xử lý theo quy định.

- Ở nhiều địa phương, công an cũng đã phát hiện các nhóm thiếu niên tụ tập mang theo hung khí tự chế để đánh nhau hoặc tấn công người đi đường một cách vô cớ.

Điểm đáng chú ý là nhiều đối tượng trong các vụ việc trên nằm trong độ tuổi vị thành niên. Dù vậy, theo quy định pháp luật, người từ đủ 14 tuổi trở lên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội cố ý gây thương tích nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

Nếu bạn cần tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này hoặc có thắc mắc cần tư vấn pháp lý, xin vui lòng liên hệ với Văn phòng Luật sư Tinh Hoa Việt, theo Hotline: 08.7939.7939 và Email: vplstinhhoaviet@gmail.com hoặc truy cập website:https://lstinhhoaviet.vn/ để được chúng tôi hỗ trợ nhanh nhất.

Thẻ 6

CẢNH BÁO TÌNH TRẠNG LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN QUA DỰ ÁN TIỀN ẢO

Trong thời gian gần đây, tình trạng lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua các dự án đầu tư tiền ảo, các ứng dụng “tài chính 4.0”, “đầu tư công nghệ”, “sàn giao dịch số”, mô hình “trading – staking – lợi nhuận cam kết” đang diễn biến hết sức phức tạp. Nhiều dự án hoạt động, lôi kéo người tham gia bằng các cam kết lợi nhuận cao, thưởng hoa hồng lớn khi mời thêm người mới. Khi hệ thống không thu hút được dòng tiền vào, đối tượng điều hành lập tức đánh sập hệ thống, xóa tài khoản hoặc vô hiệu hóa chức năng rút tiền, khiến hàng nghìn người thiệt hại.

Văn phòng Luật sư Tinh Hoa Việt đã tiếp nhận nhiều vụ việc mà số tiền bị chiếm đoạt lên đến hàng trăm triệu đồng, hàng tỷ đồng. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về tăng cường tuyên truyền, cảnh báo đối với các mô hình núp bóng công nghệ cao.

1. Quy định pháp luật về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự, hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác là tội phạm và bị xử lý hình sự. Tùy theo giá trị tài sản chiếm đoạt và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm, thậm chí tù chung thân nếu thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Trong lĩnh vực tiền ảo và đầu tư trực tuyến, các đối tượng thường sử dụng các thủ đoạn như:

- Ẩn danh, lập sàn giao dịch ảo, ví điện tử không được cấp phép;

- Tạo đồng tiền ảo tự phát, không có giá trị pháp lý, đánh lừa nhà đầu tư;

- Cam kết trả lãi “khủng”, trả thưởng theo cấp bậc, buộc người tham gia tuyển thêm người để hưởng hoa hồng;

- Giả mạo cơ quan quản lý nhà nước hoặc mạo danh doanh nghiệp uy tín để tạo lòng tin.

Những thủ đoạn này đều hướng đến mục đích cuối cùng là làm người dân tin tưởng giao nộp tài sản để chiếm đoạt.

Các dự án tiền ảo trong thời gian qua như Paynet, SPIN và mới nhất là dự án tiền ảo Heliwin đều không được cấp phép hoạt động. Nhiều vụ đã bị cơ quan điều tra khởi tố, bắt giữ đối tượng cầm đầu, thu giữ lượng lớn tài sản, góp phần hạn chế thiệt hại cho người dân. Tuy nhiên, thiệt hại vẫn ở mức rất lớn do đặc thù của loại hình giao dịch xuyên biên giới, khó kiểm soát và ẩn danh.

2. Thực trạng lừa đảo tiền ảo ngày càng tinh vi

Các mô hình lừa đảo hiện nay thường sử dụng một số chiêu thức:

- Tổ chức hội thảo, sự kiện hoành tráng, thuê chuyên gia giả danh để tạo lòng tin;

- Sử dụng ứng dụng giao dịch mô phỏng, cho rút tiền giai đoạn đầu để tạo niềm tin;

- Hứa hẹn lãi suất 1–3%/ngày, và lên đến 75%/ năm cam kết bảo hiểm vốn, trả thưởng theo tuyến trên – tuyến dưới;

- Quảng cáo qua mạng xã hội, livestream, nhóm kín trên Zalo, Telegram, Facebook;

- Khi số lượng người tham gia đủ lớn, đối tượng đóng sàn, chặn rút tiền và bỏ trốn.

Không ít người rơi vào bẫy vì thiếu thông tin pháp lý, tâm lý muốn kiếm tiền nhanh và tin tưởng vào người quen mời gọi.

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua dự án tiền ảo đang là một trong những hình thức tội phạm công nghệ cao nguy hiểm nhất hiện nay. Công tác phòng ngừa, đấu tranh và xử lý đòi hỏi sự phối hợp giữa cơ quan chức năng – tổ chức – doanh nghiệp – người dân. Việc tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nâng cao nhận thức cộng đồng là yếu tố then chốt để bảo vệ tài sản của người dân và bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Nếu bạn cần tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này hoặc có thắc mắc cần tư vấn pháp lý, xin vui lòng liên hệ với Văn phòng Luật sư Tinh Hoa Việt, theo Hotline: 08.7939.7939 và Email: vplstinhhoaviet@gmail.com hoặc truy cập website:https://lstinhhoaviet.vn/ để được chúng tôi hỗ trợ nhanh nhất