Tin tức
Giao thông9 phút đọc

Tại phiên sơ thẩm, bị cáo bị tuyên 12 năm tù, chủ yếu căn cứ vào lời khai từ các vụ án cũ và không được kiểm chứng lại. Nhiều tình tiết giảm nhẹ quan trọng do luật sư đưa ra không được xem xét. Ở phiên phúc thẩm, luật sư đã bổ sung chứng cứ, liên hệ bị hại để bồi thường. Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp nhận đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ

Tại phiên sơ thẩm, bị cáo bị tuyên 12 năm tù, chủ yếu căn cứ vào lời khai từ các vụ án cũ và không được kiểm chứng lại. Nhiều tình tiết giảm nhẹ quan trọng do luật sư đưa ra không được xem xét. Ở phiên phúc thẩm, luật sư đã bổ sung chứng cứ, liên hệ bị hại để bồi thường. Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp nhận đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ

CHỦ ĐỀ

PHIÊN TÒA PHÚC THẨM VỤ ÁN “MUA BÁN NGƯỜI” SAU 36 NĂM: KHI NHỮNG TÌNH TIẾT BỊ BỎ QUÊN ĐƯỢC SÁNG TỎ

Ngày 29 tháng 10 năm 2025, Tòa án nhân dân tối cao đã mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án “Mua bán người” liên quan đến bị cáo Nguyễn T.L, người bị tuyên phạt 12 năm tù tại cấp sơ thẩm bởi Tòa án nhân dân thành phố H.

Đây là vụ án có tính chất đặc biệt: hành vi bị cáo buộc xảy ra từ năm 1989 – 1990, tức đã hơn ba thập niên, nhưng người bị truy nã chỉ bị bắt vào đầu năm 2025.

Tại phiên phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã chấp nhận các tình tiết giảm nhẹ do luật sư bào chữa (thuộc Văn phòng luật sư Tinh Hoa Việt) đưa ra – những tình tiết mà trước đó không được xem xét tại cấp sơ thẩm. Điều này không chỉ giúp làm sáng tỏ nhiều điểm then chốt trong vụ án mà còn đặt ra yêu cầu nghiêm túc về quyền bào chữa, nguyên tắc độc lập xét xử, và nghĩa vụ đánh giá toàn diện chứng cứ.

Bản án sơ thẩm xác định bị cáo Nguyễn T.L là chủ mưu, thủ phạm chính trong đường dây “mua bán phụ nữ sang Trung Quốc” từ hơn 30 năm trước.

Tuy nhiên, kết luận này chủ yếu dựa trên:

  • Lời khai của mẹ và dì bị cáo trong một vụ án khác đã xét xử từ năm 1990–1991;
  • Một số nhận định trong bản án sơ thẩm và phúc thẩm cũ của thời điểm đó.

Đáng chú ý là các lời khai này được thu thập khi bị cáo Nguyễn T.L không có mặt, không được đối chất, không có luật sư.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đây không phải là chứng cứ hợp lệ để buộc tội bị cáo trong phiên tòa hiện tại nếu không được kiểm chứng lại một cách khách quan. Chính vì vậy, việc kết tội bị cáo là “chủ mưu” đã gây nhiều băn khoăn từ góc độ cả pháp lý lẫn thực tiễn.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, luật sư bào chữa nêu ra quan điểm bào chữa xin giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn T.L với những tình tiết giảm nhẹ sau:

  • Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017);
  • Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả (điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017);
  • Người phạm tội là phụ nữ có thai (điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017);
  • Thời điểm phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi (Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024).

Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét và đánh giá, sau đó chỉ chấp nhận tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, tình tiết bị cáo Nguyễn T.L tự nguyện nộp lại số tiền hơn 3.700.000 đồng cho Chi cục thi hành án dân sự để khắc phục hậu quả được đánh giá là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 (không phải theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017). Còn lại các tình tiết giảm nhẹ khác do luật sư đề nghị không được Hội đồng xét xử sơ thẩm xem xét.

Vì vậy, mức hình phạt của bị cáo Nguyễn T.L ở phiên tòa xét xử sơ thẩm là 12 năm tù giam, đây là một mức hình phạt vô cùng nặng nề và nghiêm khắc đối với bị cáo nên sau đó bị cáo Nguyễn T.L đã làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân dân thành phố H.

Ở cấp phúc thẩm, luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn T.L đã thu thập và xây dựng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi chủ động liên hệ với các nạn nhân trong vụ án để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và thể hiện nguyện vọng xin được tha thứ, ăn năn của bị cáo Nguyễn T.L. Sau đó, người bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, luật sư bào chữa đã nêu quan điểm bào chữa như ở cấp xét xử sơ thẩm và bổ sung thêm tình tiết bồi thường thiệt hại cho người bị hại (theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017) và đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của bị hại.

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã xem xét và đánh giá, chấp nhận thêm các tình tiết giảm nhẹ trước đó mà cấp sơ thẩm đã không chấp nhận là:

  1. Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả (điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017).

Luật sư bào chữa đã thay mặt bị cáo Nguyễn T.L bồi thường cho bị hại duy nhất còn liên lạc được trong vụ án là bà Nguyễn T.T số tiền 50 triệu đồng và đã nộp bằng chứng ghi nhận lại việc bồi thường cho bà Nguyễn T.T cho Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá.

  1. Người phạm tội là phụ nữ có thai (điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017).

Hội đồng xét xử phúc thẩm đã xem xét bằng chứng là Giấy công chứng của Văn phòng công chứng Thành phố N.N, tỉnh Q.T, Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có nội dung công chứng quan hệ nhân thân giữa L.P tức Nguyễn T.L (tên Trung Quốc của bị cáo Nguyễn T.L) và L.H.V (con bị cáo). Căn cứ vào năm sinh của L.H.V, thể hiện rằng thời điểm bị cáo Nguyễn T.L đang thực hiện hành vi phạm tội là thời điểm bị cáo đang mang thai L.H.V. Căn cứ này đã được Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét và chấp nhận cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Trước đó, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn T.L, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét Giấy công chứng trên (xác nhận thân nhân giữa bị cáo và con L.H.V) và đưa ra nhận định Giấy công chứng trên được thực hiện không đúng theo trình tự, thủ tục của Luật Tương trợ tư pháp 2007.

  1. Thời điểm phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi (Luật tư pháp người chưa thành niên năm 2024).

Theo dương lịch, bị cáo Nguyễn T.L sinh ngày 05/05/1971. Thời điểm phạm tội năm 1989, bị cáo mới 17 tuổi 11 tháng 18 ngày. Việc xác định người phạm tội là người chưa thành niên kéo theo chính sách xử lý hoàn toàn khác, mang tính giáo dục – phục hồi hơn là trừng phạt. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã xem xét và đánh giá rằng bị cáo Nguyễn T.L phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi.

Như vậy, tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã xem xét và chấp nhận cho bị Nguyễn T.L những tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, b, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, xem xét tình tiết bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, đơn xin giảm nhẹ của bị hại cho bị cáo để lượng hình và đã tuyên phạt bị cáo Nguyễn T.L 8 năm tù giam.

Đây là một vụ án xảy ra đã hơn 30 năm và có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, khi tham gia vào vụ án này, luật sư đã phải vận dụng những chuyên môn, nghiệp vụ cần có để thu thập chứng cứ, tình tiết giảm nhẹ để bào chữa cho thân chủ của mình.

Vụ án Nguyễn T.L tại phiên tòa phúc thẩm cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc xem xét lại vụ án trong một bối cảnh đầy đủ hơn về chứng cứ, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ liên quan. Khi những thông tin mới, các tài liệu bổ sung và các yếu tố thực tế chưa được ghi nhận trước đó được đưa ra, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã có điều kiện để đánh giá toàn diện hơn, từ đó đưa ra quyết định phù hợp hơn với bản chất vụ việc và chính sách hình sự nhân đạo của pháp luật Việt Nam.

Điểm đáng ghi nhận là cơ chế phúc thẩm đã tạo điều kiện để các tình tiết giảm nhẹ – bao gồm việc khắc phục hậu quả, đơn xin giảm nhẹ của bị hại, tuổi của bị cáo tại thời điểm xảy ra vụ việc và những yếu tố nhân thân tích cực – được xem xét một cách đầy đủ. Điều này khẳng định rằng quá trình tố tụng không chỉ dừng lại ở một cấp xét xử, mà được thiết kế để bảo đảm mỗi cá nhân liên quan đều có cơ hội được lắng nghe, được đánh giá khách quan và được áp dụng pháp luật một cách công bằng nhất.

Vụ án vì thế trở thành minh chứng cho sự linh hoạt, nhân văn và thận trọng của hệ thống tư pháp, nơi mà mỗi quyết định cuối cùng đều hướng tới sự cân bằng giữa tính nghiêm minh của pháp luật và sự công bằng đối với con người. Đây cũng là một gợi mở đáng suy ngẫm cho những người làm nghề luật về giá trị của việc tranh tụng, nghiên cứu kỹ lưỡng hồ sơ và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo trong mọi giai đoạn tố tụng.

Nếu bạn cần tìm hiểu kỹ hơn về vấn đề này hoặc có thắc mắc cần tư vấn pháp lý, xin vui lòng liên hệ với Văn phòng Luật sư Tinh Hoa Việt, theo Hotline: 08.7939.7939 và Email: vplstinhhoaviet@gmail.com hoặc truy cập website:https://lstinhhoaviet.vn/ để được chúng tôi hỗ trợ nhanh nhất.

Bài viết liên quan

Quy trình giải quyết kiến nghị trong lựa chọn nhà đầu tư
Giao thông27/11/2025

Quy trình giải quyết kiến nghị trong lựa chọn nhà đầu tư

Kiến nghị trong đấu thầu là việc nhà thầu, nhà đầu tư, cơ quan, tổ chức cung cấp thông tin, trình bày ý kiến tới người có thẩm quyền, chủ đầu tư, bên mời thầu, đề nghị xem xét lại các vấn đề trong hoạt động đấu thầu khi thấy quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng. Bài viết dưới đây sẽ trình bày cụ thể về quy trình giải quyết kiến nghị trong lựa chọn nhà đầu tư.

Đọc tiếp →
Chi phí giải quyết kiến nghị trong lựa chọn nhà đầu tư
Giao thông23/11/2025

Chi phí giải quyết kiến nghị trong lựa chọn nhà đầu tư

Một trong các điều kiện để được xem xét, giải quyết kiến nghị là nhà đầu tư phải nộp chi phí cho cho bộ phận thường trực giúp việc của Chủ tịch Hội đồng tư vấn giải quyết kiến nghị trước hoặc đồng thời với đơn kiến nghị. Để hiểu rõ hơn về chi phí giải quyết kiến nghị trong lựa chọn nhà đầu tư, mời Quý bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây!

Đọc tiếp →
Ký nháy là gì? Những điều cần biết về ký nháy
Doanh nghiệp20/8/2026

Ký nháy là gì? Những điều cần biết về ký nháy

“Ký nháy” là một thuật ngữ phổ biến trong quá trình xử lý văn bản tại các văn phòng, công ty,... nhằm thể hiện sự đồng thuận sơ bộ của các bộ phận hoặc cá nhân có liên quan trước khi văn bản được ký chính thức. Ký nháy đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát chất lượng và tính hợp lệ của văn bản trong cơ quan, tổ chức. Vậy, ký nháy thực chất là gì? Người ký nháy cần lưu ý những gì?

Đọc tiếp →