
Hợp đồng lao động vô hiệu trong trường hợp nào?
Không phải trường hợp nào người lao động và người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động cũng được pháp luật công nhận tức là có hiệu lực pháp lý. Nếu không đảm bảo những điều kiện nhất định thì hợp đồng lao động đó sẽ bị vô hiệu. Khi hợp đồng lao động bị vô hiệu thì các bên sẽ phải xử lý những hệ quả pháp lý theo quy định của pháp luật.
Căn cứ theo Điều 49 Bộ luật lao động 2019 thì có hai hình thức vô hiệu của hợp đồng lao động là: Vô hiệu một phần và vô hiệu toàn bộ, trong đó:
Hợp đồng lao động bị vô hiệu toàn bộ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, toàn bộ nội dung của hợp đồng lao động vi phạm pháp luật
Trong thực tế, rất khó có thể xảy ra trường hợp vô hiệu này. Vì hầu hết các doanh nghiệp đều có bộ phận pháp lý rà soát hợp đồng. Tuy nhiên, vẫn phải hiểu trường hợp vô hiệu này chính là toàn bộ các điều khoản trong hợp đồng lao động đều không đúng với quy định của pháp luật. Theo quy định, hợp đồng lao động phải có những nội dung chủ yếu theo quy định tại Điều 21 Bộ luật lao động 2019, gồm:
a. Tên, địa chỉ của người sử dụng lao động và họ tên, chức danh của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động;
b. Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, số thẻ Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người lao động;
c. Công việc và địa điểm làm việc;
d. Thời hạn của hợp đồng lao động;
đ. Mức lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác;
e. Chế độ nâng bậc, nâng lương;
g. Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;
h. Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động;
i. Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp;
k. Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề.
Ngoài ra, khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bị mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bảo vệ bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp vi phạm. Hoặc đối với người lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì tùy theo loại công việc mà hai bên có thể giảm một số nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động và thỏa thuận bổ sung nội dung về phương thức giải quyết trong trường hợp thực hiện hợp đồng chịu ảnh hưởng của thiên tai, hỏa hoạn, thời tiết.
Các nội dung cơ bản của hợp đồng lao động tại Điều 21 BLLĐ được hướng dẫn chi tiết tại Điều 3 của Thông tư số 10/2020/TT-BLDTBXH ngày 12/11/2020 của Bộ LĐ-TB&XH hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động.
Thứ hai, người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này:
Về thẩm quyền ký kết hợp đồng lao động, Điều 18 BLLĐ quy định như sau:
(i) Đối với phía người sử dụng lao động, người có thẩm quyền ký kết hợp đồng lao động bao gồm:
- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;
- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;
- Người đại diện của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật;
- Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động.
(ii) Đối với phía người lao động, người có thể ký hợp đồng lao động là những người sau đây:
- Người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên;
- Người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật của người đó;
- Người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó;
- Người lao động được những người lao động trong nhóm ủy quyền hợp pháp giao kết hợp đồng lao động.
Lưu ý:
- Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động; trong trường hợp này, hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và có hiệu lực như giao kết với từng người lao động.
- Hợp đồng lao động do người được ủy quyền ký kết phải kèm theo danh sách ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú và chữ ký của từng người lao động.
- Người được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động không được ủy quyền lại cho người khác giao kết hợp đồng lao động.
Như vậy, nếu không tuân thủ về thẩm quyền ký kết như trên, thì hợp đồng lao động sẽ bị vô hiệu và không được pháp luật công nhận. Ngoài ra, nếu đúng thẩm quyền ký kết nhưng hợp đồng lao động vi phạm các nguyên tắc giao kết theo quy định cũng bị xem là vô hiệu, cụ thể:
Hợp đồng lao động cần đảm bảo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực.
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.
Thứ ba, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm:
Những công việc bị pháp luật cấm là nghề, công việc bất hợp pháp có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người lao động, ảnh hưởng xấu tới đời sống kinh tế - xã hội, thậm chí là an ninh – quốc phòng của quốc gia điển hình như: Sử dụng trẻ dưới 15 tuổi làm công việc sản xuất, kinh doanh cồn, rượu, bia, thuốc lá; sản xuất, sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ;…; sản xuất, buôn bán, vận chuyển các chất cấm như ma túy, pháo, thuốc nổ,…
Hợp đồng lao động vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng:
Theo quy định thì hợp đồng lao động phải có các nội dung cơ bản theo Điều 21 BLLĐ. Theo đó, nếu chỉ vi phạm một hoặc một vài nội dung theo quy định mà không phải toàn bộ hợp đồng và cũng không ảnh hưởng đến phần còn lại thì phần hợp đồng vi phạm sẽ bị vô hiệu.
Ví dụ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 90 Bộ luật lao động 2019, mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu. Tuy nhiên, trong hợp đồng chỉ ghi nhận mức lương thấp hơn mức lương tối thiểu, thì phần thỏa thuận về tiền lương sẽ bị vô hiệu.
