Tin tức
Doanh nghiệp6 phút đọc

Người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phải bồi thường những gì cho người lao động

Người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật phải bồi thường những gì cho người lao động

Theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động 2019 quy định như sau:

Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật:

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại Khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Theo như quy định trên, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động trái pháp luật, người sử dụng lao động phải nhận lại người lao động trở về làm việc theo hợp đồng đã giao kết.

Đồng thời, trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Người sử dụng lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp nào?

Căn cứ Điều 36 Bộ luật lao động 2019 quy định như sau:

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động:

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động.

Như vậy, người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động trong những trường hợp trên.

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động cần lưu ý đến thời gian thông báo trước cho người lao động theo quy định trên.

4. Người sử dụng lao động có được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với lao động nữ đang mang thai không?

Căn cứ vào Điều 37 Bộ luật lao động 2019 quy định như sau:

Trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

1. Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.

2. Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.

3. Người lao động nữ mang thai; người lao động đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Như vậy, đối với lao động nữ mang thai thì người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Bài viết liên quan

Ký nháy là gì? Những điều cần biết về ký nháy
Doanh nghiệp20/8/2026

Ký nháy là gì? Những điều cần biết về ký nháy

“Ký nháy” là một thuật ngữ phổ biến trong quá trình xử lý văn bản tại các văn phòng, công ty,... nhằm thể hiện sự đồng thuận sơ bộ của các bộ phận hoặc cá nhân có liên quan trước khi văn bản được ký chính thức. Ký nháy đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát chất lượng và tính hợp lệ của văn bản trong cơ quan, tổ chức. Vậy, ký nháy thực chất là gì? Người ký nháy cần lưu ý những gì?

Đọc tiếp →
Những rủi ro tài chính khôn lường từ những lời mời đầu tư vào dự án "siêu lợi nhuận"
Doanh nghiệp6/8/2026

Những rủi ro tài chính khôn lường từ những lời mời đầu tư vào dự án "siêu lợi nhuận"

Gần đây, các hình thức kêu gọi đầu tư bằng những dự án “siêu lợi nhuận” cao diễn ra ngày càng phức tạp, làm nhiều người, đặc biệt là các nhà đầu tư trung niên và cao tuổi dễ dàng mất cảnh giác và gặp phải rủi ro khôn lường. Các chiêu thức này thường hứa hẹn mức lợi nhuận hoặc những khoản thưởng hấp dẫn để thu hút vốn đầu tư. Một ví dụ điển hình là câu chuyện của nhiều người khi đầu tư vào Công ty

Đọc tiếp →
Hồ sơ, thủ tục thành lập địa điểm kinh doanh
Doanh nghiệp12/5/2026

Hồ sơ, thủ tục thành lập địa điểm kinh doanh

Nêu khái niệm địa điểm kinh doanh, trình bày hồ sơ thủ tục, trình tự thực hiện lập địa điểm kinh doanh và căn cứ pháp lý

Đọc tiếp →